Thành phần
Thuốc Actrapid HM 100 IU/ml 10ml có chứa các thành phần chính bao gồm:
- Insulin người 100IU.
- Tá dược (Kẽm Clorua, Glycerol, Nước cất,…) vừa đủ.
Dạng bào chế
Dung dịch tiêm.
Chỉ định
Hỗ trợ điều trị bệnh nhân mắc đái tháo đường, được sử dụng trong trường hợp cấp cứu bệnh đái tháo đường hoặc để ổn định tình trạng cho người bệnh mắc đái tháo đường thời gian đầu.

Liều dùng
- Nhu cầu về Insulin của bệnh nhân đái tháo đường dao động từ 0,3-1.0 IU/1kg/ngày.
- Liều dùng được bác sĩ điều trị chỉ định dựa vào tình hình bệnh trạng, đặc điểm cơ thể và nhu cầu cá nhân của từng bệnh nhân.
- Không được tự ý ngừng điều trị, cần tham khảo ý kiến của bác sĩ.
Cách dùng
- Thuốc Insulin Actrapid được bào chế dạng dung dịch tiêm nên bệnh nhân sử dụng thuốc bằng đường tiêm dưới da, nên tiêm 30 phút trước khi ăn.
- Vị trí tiêm thường ở dưới da vào thành bụng, vùng đùi, vùng mông hoặc vùng cơ delta.
- Khi tiêm, cần giữ kim dưới da tối thiểu 6 giây, giữ nút đẩy để đẩy hết thuốc trong kim tiêm vào cơ thể, sau đó rút kim ra. Trong một vùng da nên tiêm vào những vị trí khác nhau, không nên tiêm chồng lên vị trí cũ.
- Một kim tiêm chỉ được sử dụng cho một người, thay mũi kim sau mỗi lần dùng.
Chống chỉ định
- Bệnh nhân vui lòng không sử dụng thuốc Actrapid trong các trường hợp mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào có trong thuốc.
- Không dùng thuốc này cho bệnh nhân bị hạ đường huyết do có thể gây hạ đường huyết mạnh, nguy hiểm.
Dược động học
Trong máu, insulin có thời gian bán hủy vài phút. Do đó dữ liệu về tác dụng theo thời gian của chế phẩm insulin được xác định duy nhất bởi đặc tính hấp thu của nó. Quá trình này bị ảnh hưởng bởi một vài yếu tố (như liều insulin, đường tiêm, vị trí tiêm, độ dày của lớp mỡ dưới da, loại đái tháo đường). do đó, dược động học của insulin bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi đáng kể trong từng bệnh nhân và giữa các bệnh nhân.
Hấp thu
Sau khi tiêm dưới da, nồng độ cao nhất trong huyết tương đạt được trong vòng 1,5 – 2,5 giờ.
Phân bố
Không gắn mạnh với protein huyết tương, ngoại trừ kháng thể kháng insulin trong tuần hoàn (nếu có) đã được quan sát.
Chuyển hóa
Insulin người được báo cáo bị thoái biến bởi insulin pro-tease hoặc enzyme thoái biến insulin và có thể do protein disulfide isomerase. Một số vị trí phân cắt (thủy phân) trên phân tử insulin đã được đề xuất; sau khi phân cắt không có chuyển hóa nào được hình thành còn hoạt động.
Thải trừ
Thời gian bán hủy cuối được xác định bởi tốc độ hấp thu từ mô dưới da. Vì vậy, thời gian bán hủy cuối (t1/2) là thước đo sự hấp thu hơn là sự thải trừ trên mỗi giây của insulin từ huyết tương (insulin trong máu có t1/2 vài phút). Các thử nghiệm cho thấy t ½ khoảng 2 – 5 giờ.
Trẻ em và thiếu niên
Dữ liệu dược động học của actrapid đã được nghiên cứu trên một số lượng nhỏ (n=18) trẻ em (6-12 tuổi) và thiếu niên (13-17 tuổi) bị bệnh đái tháo đường. Các dữ liệu còn hạn chế nhưng đã cho thấy dữ liệu dược động học ở trẻ em và thiếu niên có thể tương tự như ở người lớn. Tuy nhiên, vẫn có sự khác nhau giữa các nhóm tuổi về Cmax , nhấn mạnh sự quan trọng về chuẩn độ liều theo từng cá nhân.
Dược lực học
Nhóm dược lý trị liệu: thuốc dung trong bệnh đái tháo đường. insulin và các chất tương tự insulin dạng tiêm, tác dụng nhanh, insulin (người). mã ATC: A10AB01. Hiệu quả làm giảm glucose dễ dàng hơn sau khi insulin gắn kết vào thụ thể trên tế bào cơ và tế bào mỡ, đồng thời ức chế sản xuất glucose từ gan.
Một thử nghiệm lâm sang tại một đơn vị chăm sóc tích cực điều trị tăng đường huyết (glucose huyết trên 10mmol/L) ở 204 bệnh nhân đái tháo đường trải qua đại phẫu cho thấy đường huyết trở lại mức bình thường (glucose huyết 4,4 – 6,1 mmol/L) do tiêm tĩnh mạch Actropic đã làm giảm tỷ lệ tử vong 42% (8% so với 4,6%).
Actrapid là loại insulin tác dụng nhanh. Tác dụng bắt đầu trong vòng 1/2 giờ, đạt hiệu quả tối đa trong vòng 1,5 – 3,5 giờ và toàn bộ thời gian tác dụng khoảng 7 – 8 giờ.
Cơ chế tác dụng
Insulin điều hòa đường huyết tại các mô đích chủ yếu là gan, cơ và mỡ. Insulin là hormon chủ yếu kiểm tra sự thu hồi, sử dụng và dự trữ các chất dinh dưỡng cho tế bào. Insulin kích thích các quá trình đồng hóa của tế bào (sử dụng và dự trữ glucose, acid amin, acid béo), đồng thời ức chế các quá trình dị hóa (phân huỷ glycogen, mỡ và protein). Tác dụng chung là kích thích vận chuyển các cơ chất và ion vào trong tế bào, hoạt hóa và bất hoạt các enzym đặc hiệu.
Glucose nhập vào tế bào bằng sự khuếch tán thuận lợi nhờ vào các chất vận chuyển glucose (glucose transporters- GLUT):
GLUT 1 có ở mọi mô, đặc biệt là hồng cầu và não.
GLUT 2 có ở tế bào β của tụy, ở gan, thận, ruột GLUT 3 có ở não, thận, rau thai.
GLUT 4 có ở cơ và mô mỡ.
GLUT 5 có ở ruột và thận
Glucose được sử dụng là nhờ vào hệ thống enzym hexokinase để chuyển thành glucose – 6- phosphat (GGP). Sau đó G6P sẽ chuyển thành glycogen để dự trữ hoặc bị oxy hóa để cung cấp năng lượng cho mô. Hexokinase IV là một glucokinase được thấy kết hợp với GLUT 2 trong gan và tế bào β của tụy; hexokinase II lại được thấy kết hợp với GLUT 4 trong tế bào cơ vân, cơ tim và mô mỡ. Cả 2 hexokinase này đều được điều hòa bởi insulin ngay ở mức phiên mã di truyền.
Tác dụng của insulin tại gan
Ức chế hủy glycogen (ức chế phosphorylase)
Ức chế chuyển acid béo và acid amin thành keto acid
Ức chế chuyển acid amin thành glucose
Thúc đẩy dự trữ glucose dưới dạng glycogen (gây cảm ứng glucokinase và glycogen synthetase)
Làm tăng tổng hợp triglycerid và VLDL.
Tác dụng của insulin tại cơ vân
Làm tăng tổng hợp protein, tăng nhập acid amin vào tế bào
Làm tăng tổng hợp glycogen, tăng nhập glucose vào tế bào
Tác dụng của insulin tại mô mỡ
Làm tăng dự trữ triglycerid và làm giả m acid béo tự do trong tuần hoàn theo 3 cơ chế:
Gây cảm ứng lipoproteinlipase tuần hoàn nên làm tăng thuỷ phân triglycerid từ lipoprotein tuần hoàn.
Este hóa các acid béo từ thuỷ phân lipoprotein
Ức chế trực tiếp lipase trong tế bào nên làm giảm lipo lyse của triglycerid dự trữ.
Tác dụng phụ
Bên cạnh các tác dụng của thuốc, người bệnh khi điều trị bằng thuốc Actrapid HM 100 IU/ml 10ml cũng có thể gặp phải một số tác dụng không mong muốn:
- Hạ đường huyết.
- Da lạnh, xanh.
- Run rẩy, lo lắng.
- Đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi.
- Nôn nao.
- Đánh trống ngực.
Khi có bất kỳ triệu chứng nào như trên xuất hiện, cần ngừng sử dụng thuốc ngay lập tức và thông báo cho bác sĩ điều trị để tìm cách xử trí.
Thận trọng khi sử dụng
Đọc kĩ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng. Nếu cần thêm thông tin, xin hỏi ý kiến bác sĩ.
Thuốc này chỉ dùng theo đơn của bác sĩ.
Việc điều trị không đủ liều hoặc không liên tục, đặc biệt trong đái tháo đường type 1, có thể dẫn đến tăng đường huyết.
Thông thường, các triệu chứng đầu tiên của tăng đường huyết xuất hiện từ từ, kéo dài trong vài giờ hoặc vài ngày. Những triệu chứng này bao gồm khát, tiểu nhiều lần, buồn nôn, nôn, buồn ngủ, da khô đỏ, khô miệng, mất sự ngon miệng cũng như hơi thở có mùi aceton. Trong đái tháo đường type 1, các trường hợp tăng đường huyết không được điều trị cuối cùng sẽ dẫn đến nhiễm toan aceton do đái tháo đường, có khả năng gây tử vong.
Hạ đường huyết.
Hạ đường huyết có thể xảy ra nếu liều insulin quá cao so với nhu cầu insulin. Bỏ một bữa ăn hay luyện tập thể lực gắng sức, không có kế hoạch có thể dẫn đến hạ đường huyết. Những bệnh nhân có sự kiểm soát glucose huyết được cải thiện rõ, ví dụ do liệu pháp insulin tích cực, có thể có thay đổi về những triệu chứng cảnh báo thường gặp của hạ đường huyết và nên được bác sĩ thông báo trước. Những triệu chứng cảnh báo thường gặp có thể mất đi ở những bệnh nhân đái tháo đường đã lâu.
Khi chuyển bệnh nhân sang sử dụng một loại insulin khác hay nhãn hiệu insulin khác cần được thực hiện dưới sự giám sát y tế chặt chẽ. Những thay đổi về nồng độ, nhãn hiệu (nhà sản xuất), loại, nguồn gốc (insulin người, chất tương tự insulin) và/hoặc phương pháp sản xuất có thể dẫn đến sự cần thiết thay đổi liều dùng. Những bệnh nhân được chuyển sang actrapid từ một loại insulin khác có thể cần phải tăng một số mũi tiêm hàng ngày hoặc thay đổi liều của loại insulin mà họ đã sử dụng trước đó. Nếu việc điều chỉnh là cần thiết khi chuyển bệnh nhân sang sử dụng Actrapid® thì có thể thực hiện ở liều đầu tiên hoặc trong vài tuần hoặc vài tháng đầu.
Cũng như bất kì liệu pháp insulin nào khác, có thể xảy ra các phản ứng tại chỗ tiêm, bao gồm đau đỏ, nổi mề đay, viêm, thâm tím, sưng và ngứa. Thay đổi liên tục vị trí tiêm trong một vùng tiêm nhất định có thể giúp làm giảm hoặc phòng ngừa các phản ứng này. Những phản ứng trên thường qua đi trong vài ngày hoặc vài tuần. Trong một số trường hợp hiếm gặp, phản ứng tại chỗ tiêm có thể đòi hỏi phải ngừng sử dụng Actrapid®.
Trước khi đi du lịch đến nơi khác có sự khác biệt về múi giờ, bệnh nhân nên tham khảo ý kiến bác sĩ vì điều này có nghĩa là bệnh nhân phải tiêm insulin và dùng các bữa ăn vào những thời điểm khác.
Do nguy cơ kết tủa trong một số ống thông bơm insulin, không được dùng Actrapid® trong bơm insulin để truyền insulin dưới da liên tục.
Kết hợp thiazolidinedione và các thuốc insulin
Đã có báo cáo về các trường hợp suy tim sung huyết khi dùng thiazolidinedione kết hợp với insulin, đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ về phát triển suy tim sung huyết. Cần phải nhớ điều này nếu xem xét điều trị kết hợp thiazolidinedione với các thuốc insulin. Nếu sử dụng kết hợp, phải theo dõi bệnh nhân về các dấu hiệu và triệu chứng của suy tim sung huyết, tăng cân và phù. Phải ngưng sử dụng thiazodilinedione nếu xảy ra bất kì triệu chứng nào về tim xấu đi.
Tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác.
Một số thuốc được biết là có tương tác với chuyển hóa glucose.
Những chất sau đây có thể làm giảm nhu cầu insulin của bệnh nhân:
Thuốc điều trị đái tháo đường dạng uống, chất ức chế monoamine oxidase (MAOI), thuốc chẹn beta không chọn lọc, chất ức chế enzyme chuyển angiotensin (ACE), salicylate, các steroid đồng hóa và sulfonamide.
Những chất sau đây có thể làm tăng nhu cầu insulin của bệnh nhân:
Thuốc tránh thai dạng uống, thiazide, glucocorticoid, hormone tuyến giáp, các chất có tác dụng giống thần kinh giao cảm, hormone tăng trưởng và danazol.
Thuốc chẹn beta có thể che lấp các triệu chứng hạ đường huyết và làm chậm trễ sự hồi phục.
Octreotide/lanreotide có thể làm tăng hoặc giảm nhu cầu insulin. Rượu có thể làm tăng hoặc giảm tác dụng hạ đường huyết của insulin.
Thời kỳ mang thai
Không có sự hạn chế về việc điều trị đái tháo đường bằng insulin trong thời kì mang thai, vì insulin không qua hàng rào nhau thai.
Cả hạ đường huyết và tăng đường huyết có thể xảy ra trong trường hợp điều trị kiểm soát bệnh đái tháo đường không đầy đủ, đều có thể làm tăng nguy cơ thai dị tật và thai chết lưu trong tử cung. Khuyến cáo tăng cường kiểm soát glucose huyết và theo dõi các phụ nữ mang thai bị đái tháo đường trong suốt thai kì và khi dự định mang thai.
Nhu cầu insulin thường giảm trong 3 tháng đầu thai kì và tăng lên trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối thai kì. Sau khi sinh, nhu cầu insulin thường nhanh chóng trở lại các chỉ số như trước khi mang thai.
Thời kỳ cho con bú
Không có sự hạn chế về việc điều trị bằng Actrapid trong thời kì cho con bú.
Việc điều trị bằng insulin cho các bà mẹ cho con bú không có nguy cơ gì cho bé. Tuy nhiên, có thể cần phải điều chỉnh liều Actrapid, chế độ ăn hoặc cả 2.
Khả năng lái xe và vận hành máy móc
Khả năng tập trung và phản ứng của bệnh nhân có thể bị suy giảm do hậu quả của hạ đường huyết. Điều này có thể gây ra nguy hiểm trong những tình huống mà những khả năng này có tầm quan trọng đặc biệt (như đang lái xe hay đang vận hành máy móc). Bệnh nhân nên được nhắc nhở để thận trọng tránh tình trạng hạ đường huyết trong khi lái xe. Điều này đặc biệt quan trọng ở những bệnh nhân bị giảm hay không nhận biết được dấu hiệu cảnh báo của hạ đường huyết hoặc ở những người thường có các cơn hạ đường huyết. Cần cân nhắc việc lái xe trong những trường hợp này.
Tương tác thuốc
Thuốc có tác dụng thay đổi đối với kiểm soát glucose huyết: Steroid đồng hóa, muối lithi, pentamidin, clonidin, và thuốc chẹn beta adrenergic có nhiều tác dụng thay đổi đối với chuyển hóa glucose: có thế tác động xấu đến dung nạp glucose hoặc làm tăng số lần hoặc mức độ nặng của hạ glucose huyết. Thuốc chẹn beta làm mất triệu chứng tim đập nhanh do hạ glucose huyết, nhưng không làm mất triệu chứng vã mồ hôi, làm chậm tốc độ phục hồi glucose huyết sau hạ glucose huyết do thuốc, làm thay đổi đáp ứng huyết động đối với hạ glucose huyết, có thế dẫn đến tăng huyết áp và có thể ảnh hưởng xấu đến tuần hoàn ngoại vi. Các thuốc chẹn beta không chọn lọc (như propranolol, nadolol) không có hoạt tính giao cảm nội tại có nhiều khả năng tác động đến chuyển hóa glucose hơn các thuốc chẹn beta chọn lọc (như metoprolol, atenolol) hoặc thuốc có hoạt tính giao cảm nội tại (như acébutolol, pindolol). Các thuốc này phải dùng thận trọng cho người đái tháo đường, đặc biệt khi bệnh không ổn định, hoặc hay bị hạ glucose huyết. Dùng liều thấp, thuốc chẹn beta chọn lọc (như metoprolol, atenolol) hoặc có hoạt tính giao cảm nội tại, về lý thuyết có thể làm giảm nguy cơ tác động đến kiểm soát glucose huyết ở người đang dùng insulin. Khi phối hợp insulin cùng thuốc chẹn beta, cần khuyên người bệnh theo dõi sát glucose huyết.
Thuốc khác có tác động đến kiểm soát glucose huyết: Hoạt tính hạ glucose huyết có thể tăng lên khi phối hợp với rượu, thuốc chẹn alpha-adrenergic, disopyramid, một số thuốc chống trầm cảm (như thuốc ức chế monoamin oxidase), fibrat, fluoxetin, guanethidin, thuốc uống hạ glucose huyết, pentoxifylin, propoxifen, salicylat, kháng sinh sulfamid, một số thuốc ức chế enzym chuyển đổi angiotensin, và thuốc ức chế chức năng tụy (như octreotid). Khi dùng thêm hoặc ngừng dùng các thuốc này cho người đang dùng insulin, bao gồm cả insulin lispro, phải theo dõi sát người bệnh để phát hiện thay đổi glucose huyết và có khả năng giảm nhu cầu insulin.
Thuốc có hoạt tính làm tăng glucose huyết có thể đối kháng hoạt tính của insulin, làm khó kiểm soát glucose huyết ở người đái tháo đường dùng insulin gồm có: Asparaginase, thuốc chống loạn thần không điển hình (như olanzapin, clozapin), thuốc chẹn calci, diazoxid, một số thuốc chống mỡ (như niacin); corticosteroid, danazol, estrogen, glucagon, thuốc tránh thai uống, isoniazid, phenothiazin, thuốc ức chế protease, somatropin, thuốc giống thần kinh giao cảm (như epinephrin, albuterol, terbutalin), lợi tiểu thiazid, furosemid, acid ethacrynic, và hormon giáp. Khi dùng thêm hoặc ngừng dùng thuốc này ở người đang dùng insulin, phải theo dõi sát người bệnh vì nhu cầu insulin có thể tăng lên.
Lưu ý khi sử dụng
- Sử dụng đúng và đủ liều đã được quy định.
- Khi sử dụng, cần có sự giúp đỡ và giám sát của nhân viên y tế, không được tự ý tiêm thuốc khi không có chỉ định.
- Để xa tầm tay của trẻ em, tránh các em làm đổ vỡ thuốc.
- Bệnh nhân không được tự ý ngừng sử dụng thuốc mà phải xin ý kiến của bác sĩ điều trị.
- Người bệnh có nguy cơ bị hạ đường huyết do sử dụng Insulin liều cao hoặc trong thời gian dùng thuốc không chịu ăn uống, lười vận động.
- Nhiễm toan ceton có thể xảy ra do sử dụng Insulin liều thấp chưa đáp ứng đủ nhu cầu, do ăn uống chưa hợp lý hoặc xảy ra trong trường hợp mắc bệnh nhiễm trùng hoặc mắc các bệnh lý liên quan khác.
Lưu ý đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con bú
Thuốc Actrapid 100 IU/ml được chứng minh an toàn với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con bú. Tuy nhiên, đối với phụ nữ đang nuôi con bú cần điều chỉnh liều cho phù hợp.
Cách bảo quản
- Bảo quản thuốc ở nơi khô ráo, tránh ánh nắng trực tiếp.
- Nhiệt độ thích hợp là 2 đến 8 độ C.
- Để xa tầm tay trẻ em.
Quy cách đóng gói
Mỗi hộp thuốc gồm 1 lọ, mỗi lọ chứa 10 ml.
Nhà sản xuất
Công ty Novo Nordisk A.S – Đan Mạch.
Số đăng ký
VN-6841-02.




Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.